Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012

Vĩnh Phúc: Đánh giá về tình hình sản xuất VLXD

Đánh giá về tình hình sản xuất VLXD của Vĩnh Phúc trong giai đoạn vừa qua:

Ưu điểm:

- Về đầu tư phát triển sản xuất VLXD: 

Vĩnh Phúc là một tỉnh nhỏ, không phong phú về nguồn nguyên liệu sản xuất VLXD, nhưng Vĩnh Phúc kề cận với thủ đô Hà Nội nên có vị trí địa lý mang ý nghĩa kinh tế rất quan trọng. Vì vậy, đã thu hút nhiều nhà đầu tư vào phát triển sản xuất VLXD kể cả ở Trung ương và địa phương, kể cả khu vực nhà nước và ngoài nhà nước, như: Tổng Công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng, Tổng Công ty sông Đà, Tổng Công ty xuất nhập khẩu xây dựng; Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng hạ tầng và phát triển nông thôn, Tập đoàn Prime cùng các DNTN ở trong và ngoài tỉnh, như: Công ty TNHH Việt Anh, Công ty bê tông Xuân Mai… đây chính là yếu tố đã làm tăng tính đa dạng về sản phẩm và qui mô sản xuất VLXD của tỉnh. Vĩnh Phúc có một số sản phẩm VLXD phát triển rất nhanh chóng và đứng đầu ngành như gạch ốp lát; các sản phẩm VLXD thông dụng, như: gạch ngói nung đứng thứ  hai trong các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng (sau Hà Tây cũ), cát bê tông cũng là một trong những tỉnh có sản lượng lớn của cả nước.

-  Về công nghệ sản xuất VLXD: 

Công nghệ sản xuất VLXD của Vĩnh Phúc trong giai đoạn vừa qua đã được nâng lên một bước và tiếp cận được trình độ chung ở trong nước, ở khu vực và quốc tế: Cơ sở sản xuất gạch ốp lát Thăng Long, Prime, Việt Anh đã nhập thiết bị công nghệ của các hãng ở ITALIA là công nghệ tiên tiến trên thế giới, đã sản xuất ra sản phẩm gạch ceramic, granit chất lượng cao; ngoài sản xuất gạch ốp lát Tập đoàn Prime còn sản xuất ngói nung loại 12 viên/m2 tráng men và không tráng men bằng dây chuyền nhập của Đức và Italia; các cơ sở sản xuất gạch ngói nung đã đầu tư dây chuyền chế biến tạo hình đồng bộ và sấy nung lò tuy nen liên hợp đã sản xuất không chỉ các loại gạch tiêu chuẩn thông thường mà còn sản xuất ra các sản phẩm mỏng, như: gạch nem tách, ngói 22 viên/m2, ngói mũi, gạch lá dừa với chất lượng cao và hình dáng bên ngoài rất đẹp, một vài cơ sở khai thác đá đã đầu tư dây chuyền chế biến của Nhật Bản có qui mô sản xuất lớn; các dây chuyền sản xuất bê tông cấu kiện (ống cống, cột điện, cọc…) đều sử dụng phương pháp ly tâm và phương pháp rung ép … nên nhìn chung chất lượng sản phẩm VLXD sản xuất ở Vĩnh Phúc đều đảm bảo tiêu chuẩn, cạnh tranh tốt trên thị trường trong vùng.

- Về thị trường  VLXD:  

Nhờ tăng cường đầu tư vào sản xuất, nâng cao sản lượng và chất lượng VLXD  cùng với  sự phát triển của công cuộc xây dựng ở tỉnh và các địa bàn lân cận  nên trong giai đoạn vừa qua thị trường VLXD của Vĩnh Phúc đã trở nên sôi động. Ngoài khu vực xây dựng tập trung của nhà nước (khu đô thị, khu công nghiệp…), thì thị trường VLXD ở khu vực nông thôn cũng phát triển rất mạnh mẽ do đời sống của nhân dân được nâng cao nên có điều kiện tích luỹ để cải thiện nhà ở. Phương thức cung ứng VLXD cũng đa dạng và thông thoáng hơn phù hợp với nền kinh tế đã chuyển sang cơ chế thị trường, đã xuất hiện những đại lí chuyên bán hàng cho một cơ sở sản xuất VLXD và các cơ sở kinh doanh đa dạng các mặt hàng VLXD, kể cả các mặt hàng VLXD chưa được sản xuất ở tỉnh. Ngoài việc bán hàng trên phương tiện người mua, nhiều cơ sở sản xuất đã đầu tư phương tiện vận tải chở sản phẩm đến tận chân công trình, đáp ứng nhanh chóng, đủ khối lượng và đúng chất lượng của người sử dụng. Cân đối cung - cầu về VLXD trên địa bàn Vĩnh Phúc về cơ bản đã được đảm bảo, nhất là đối với các chủng loại VLXD thông dụng như gạch ngói, đá cát sỏi xây dựng. Một số sản phẩm VLXD ngoài việc thoả mãn nhu cầu trong tỉnh đã được xuất ra tỉnh ngoài, như: gạch nung xuất sang Hà Nội, Phú Thọ; ngói nung, gạch nem tách xuất ra các tỉnh miền Bắc từ Quảng Bình trở ra; cát vàng xuất ra các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng; gạch ceramic có thị trường tiêu thụ rộng khắp trong cả nước ..., đã góp phần tích cực vào việc tăng thu ngân sách cho tỉnh, giải quyết việc làm cho người lao động, từng bước đưa ngành công nghiệp VLXD vươn lên xứng đáng là một trong những ngành kinh tế quan trọng của địa phương.

Ngoài các sản phẩm VLXD được sản xuất và tiêu thụ tại tỉnh cũng như xuất ra ngoài tỉnh, còn một số sản phẩm VLXD mà Vĩnh Phúc phải nhập từ tỉnh ngoài, nhất là các loại vật liệu trang trí và hoàn thiện, như: sứ vệ sinh (xí bệt, xí xổm, lavabô, bồn tiểu); thủy tinh xây dựng (kính trắng, kính màu, kính an toàn) Ngoài ra, còn các chủng loại khác tuy lượng tiêu thụ chỉ có mức độ nhưng không thể thiếu được, như: như sắt thép xây dựng, đá ốp lát, sơn, bột màu, matit, tiểu ngũ kim xây dựng, ống nước, tấm trần, phụ kiện sứ vệ sinh, vật liệu nhôm và hợp kim nhôm, vật liệu nhựa v.v, đều nhập trực tiếp từ các tỉnh lân cận hoặc được cung ứng qua các đại lí của cơ sở sản xuất đặt tại các điểm đô thị, các trục giao thông chính trên địa bàn tỉnh. Các sản phẩm này được sản xuất ở Hà Nội, Bắc Ninh và một số tỉnh khác trong vùng với năng lực rất cao và vận chuyển tới Vĩnh Phúc với cự li không xa, sẽ là nguồn cung ứng quan trọng cho Vĩnh Phúc trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.


Khó khăn, hạn chế:

Tuy nhiên, sản xuất VLXD của Vĩnh Phúc trong giai đoạn vừa qua cũng còn những khó khăn, những  mặt tồn tại cần phải khắc phục kịp thời:

- Về sản xuất VLXD: 
Sản xuất VLXD thuộc các hộ tư nhân còn phân tán, qui mô sản xuất còn nhỏ bé, công nghệ sản xuất chưa có mức độ cơ giới hoá, tự động hoá cao. Hiện tại trên địa bàn còn 500 lò gạch, 335 lò ngói thủ công. Qui mô các lò nung gạch ngói rất nhỏ nên năng suất và chất lượng sản phẩm còn hạn chế, các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật trong sản xuất không đảm bảo như: tiêu hao nguyên liệu lớn (2 m3 đất/1000 viên), tiêu hao than lớn (150 – 180 kg/1000 viên) và do phải đốt lò nhiều lần nên lượng củi sử dụng cũng cao (200 kg/lần, khoảng 7800 kg/năm cho 38 – 40 lần đốt). Các chỉ tiêu này đều cao hơn các loại lò gạch cải tiến từ 1,2 – 1,5 lần. Chất lượng sản phẩm gạch nung trong lò đứng thủ công không cao, kích thước gạch nhỏ, mác gạch thấp (cường độ nén 50 – 60 KG/cm2), gạch bị phồng rộp, cong vênh, nứt vỡ nhiều. Có trường hợp nhà thầu xây dựng dùng gạch thủ công để xây lẫn với gạch tuynen nhằm giảm giá thành xây dựng, đã làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình. Sản phẩm ngói thủ công cũng thường cong vênh khi lợp nhà dễ bị hắt nước khi trời mưa, đôi khi người sản xuất cho muối vào đất để sản phẩm có màu sắc đẹp, tiếng kêu trong nên lợp lên mái lâu ngày dễ bị mốc, phải sửa chữa tốn kém.

- Về khai thác khoáng sản làm VLXD: 
Thống kê gần đây cho thấy số điểm khai thác khoáng sản làm VLXD ở tỉnh rất nhiều, nhưng số điểm mỏ được cấp phép khai thác thì rất ít, hiện chỉ có 5 khu vực khai thác đá xây dựng, 1 khu vực khai thác cát xây dựng và 2 điểm khai thác cao lanh và fenspat được cấp phép khai thác hiện còn hiệu lực, còn lại là khai thác không phép và trái phép. Điều đó chứng tỏ  hiện tượng khai thác tự do, vô tổ chức vẫn còn diễn ra ở nhiều địa bàn, nhiều loại hình khoáng sản làm suy kiệt nguồn tài nguyên, gây tranh chấp, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây ra ô nhiễm môi trường, nhất là trong khai thác cát bê tông trên sông Lô, sông Phó Đáy và khai thác thác sét gạch ngói ở hầu khắp các huyện, thành phố trong tỉnh v.v…. Cụ thể:

+ Hoạt động khai thác cát sỏi trái phép vẫn còn diễn ra và chưa được ngăn chặn triệt để, nhất là ở các xã ven sông Lô, như: Hải Lựu, Đôn Nhân, Tứ Yên, Đức Bác, Cao Phong (Lập Thạch), ven sông Phó Đáy, như: Bàn Giản, Liễn Sơn, Đồng Ích, Đình Chu, Triệu Đề, Sơn Đông (Lập Thạch); Đồng Tĩnh (Tam Dương)…. Nhiều hộ tư nhân dùng máy mini hút xả cát lên bờ rồi tự do mở bến bãi và đường tạm cho xe chở cát qua đê đi tiêu thụ; nhiều hộ tư nhân đầu tư tàu cuốc và sà lan khai thác cát vàng, sỏi dưới lòng sông, trong đó nhiều tàu sử dụng máy hút công suất lớn chọc hút cát vào sát chân đê gây ra sạt lở. Dọc bờ sông còn có hàng chục điểm bến, bãi của các tổ chức cá nhân kinh doanh cát sỏi (điển hình nhất là ở khu vực bờ sông Phó Đáy nơi giáp ranh với sông Lô). Các cơ sở này đều vi phạm các qui định của pháp luật Nhà nước, như: không có giấy phép kinh doanh, không có giấy phép mở bến bãi, không có cam kết về giảm thiểu môi trường, không có hoá đơn hợp pháp và không làm rõ được địa chỉ nguồn cát sỏi đưa vào kinh doanh tại bến.

+ Đất sét làm gạch ngói đối với các cơ sở sản xuất lò đứng thủ công thường là đất ruộng, nhưng sau khi khai thác các cơ sở sản xuất đã không hoàn thổ kịp thời để trả lại đất đai cho canh tác nông, lâm nghiệp, hoặc không chuyển đổi mục đích sử dụng ngay đã làm thâm hụt lớn đến quĩ đất của tỉnh. Việc tập trung nhiều lò gạch ngói thủ công ở một khu vực đã gây ra ô nhiễm môi trường do khói bụi độc hại thải ra từ các lò nung. Ngoài ra, việc vận chuyển nguyên liệu về sản xuất và sản phẩm đi tiêu thụ cũng làm tăng mật độ phương tiện giao thông, phá hỏng các tuyến đường vận chuyển và gây ô nhiễm môi trường.

Đa số các cơ sở khai thác khoáng sản làm VLXD có qui mô nhỏ bé, nguồn vốn còn hạn chế nên ít có dự án được đầu tư trang thiết bị công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Các sản phẩm cao lanh, fenspat đều được bán dưới dạng quặng thô. Một số cơ sở có khâu chế biến nhưng còn nặng về thủ công: Fenspat chỉ qua sơ chế bằng máy kẹp hàm và máy nghiền búa đến cỡ hạt khoảng 1 mm rồi bán cho khách hàng. Sản phẩm gạch chịu lửa và sa môt vẫn được nung trong lò đứng xếp than trực tiếp như lò nung gạch xây, nên chất lượng thấp, sản lượng hàng năm thường chỉ đạt khoảng 500 - 1000 tấn mỗi loại và việc tiêu thụ gặp nhiều khó khăn.

Việc sử dụng tài nguyên khoáng sản làm VLXD nhiều trường hợp không đúng mục đích, như dùng cát vàng sông Lô để san nền; dùng đá granit, riolit cường độ cao để làm các công trình giao thông nông thôn, việc dùng sỏi thay cho đá làm cốt liệu bê tông trong xây dựng chưa được phổ biến, trong khi nguồn sỏi xây dựng ở Vĩnh Phúc tương đối lớn v.v… .

Những hiện tượng nêu trên có nguyên nhân căn bản thuộc về phía người tham gia khai thác khoáng sản đã tổ chức khai thác tự do không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, hoặc có cơ sở được cấp phép nhưng không thực hiện đúng qui trình qui phạm của lĩnh vực hoạt động này mà Nhà nước qui định. Song, còn có nguyên nhân của công tác quản lý khai thác tài nguyên và quản lý sản xuất VLXD của địa phương từ tỉnh đến huyện, xã.

Hoạt động của Thanh tra khoáng sản chưa mạnh nên công tác kiểm tra ngăn chặn việc khai thác khoáng sản trái phép chưa bao quát được. Việc phối hợp giữa cơ quan quản lý về TNKS với chính quyền địa phương và các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng chưa thường xuyên liên tục và chặt chẽ, nên các hoạt động khoáng sản trái phép vẫn không được ngăn chặn triệt để.

Hệ thống quản lý sản xuất của ngành VLXD chưa xuyên suốt từ tỉnh đến huyện, xã. Nhiều huyện không có cán bộ chuyên trách theo dõi lĩnh vực sản xuất và kinh doanh VLXD, chỉ có cán bộ kiêm nhiệm thuộc phòng Hạ tầng – Kinh tế, nên đã không quản lý được sự phát triển tự phát của các cơ sở khai thác khoáng sản và sản xuất VLXD, ở nhiều nơi các cơ sở này được sự bảo trợ của chính quyền vì đó là nguồn thu cho hoạt động của địa phương nên công tác quản lý càng khó khăn.

Tóm lại, từ những kết quả đã đạt được trong sản xuất VLXD và hoạt động khai thác khoáng sản làm VLXD ở Vĩnh Phúc trong giai đoạn vừa qua cho thấy:

Ngành công nghiệp VLXD của Vĩnh Phúc đã có những chuyển biến tích cực trong việc đầu tư đổi mới công nghệ, từng bước tiếp cận được trình độ công nghệ chung của cả nước. Sản xuất VLXD đã tạo ra nguồn hàng ổn định đáp ứng tốt nhu cầu xây dựng của tỉnh và mở rộng thị trường ra ngoài tỉnh, tạo ra nhiều việc làm và có tích luỹ để tái đầu tư cho sản xuất của bản thân ngành cũng như tăng nguồn thu cho ngân sách cho địa phương. Công tác quản lí Nhà nước trong lĩnh vực VLXD đã dần được quan tâm đúng mức, gắn bó mật thiết với sự quản lí ngành của Nhà nước trên tầm vĩ mô, nên sản xuất VLXD ở địa phương đã đi đúng định hướng phát triển chung và cụ thể hoá vào điều kiện thực tế của tỉnh.

Hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản làm VLXD, cũng được các ngành, các cấp ở tỉnh quan tâm và chỉ đạo sát sao. Tỉnh đã ban hành nhiều văn bản pháp quy về hoạt động khoáng sản tại địa phương, đã tổ chức nhiều hội nghị cho cán bộ chuyên ngành cấp huyện, phường, xã... để tuyên truyền hướng dẫn pháp luật về khoáng sản và các văn bản liên quan; đồng thời thường xuyên cập nhật các văn bản pháp luật mới, tạo nên một hành lang pháp lí ổn định cho công tác quản lí ngành, là điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động khoáng sản, đáp ứng được cơ bản về nhu cầu VLXD của địa phương.

Tuy nhiên, ngành sản xuất VLXD của Vĩnh Phúc vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức, khó khăn chủ quan của bản thân ngành VLXD và khó khăn khách quan của tình hình kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Vì vậy, trong giai đoạn tới cần có chiến lược về thị trường và định hướng cụ thể về phát triển ngành công nghiệp VLXD, để có thể kêu gọi, thu hút đầu tư, nhằm huy động tối đa các nguồn lực bên trong và bên ngoài vào sản xuất, phát huy tốt tiềm năng khoáng sản làm VLXD vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh.